CÔNG TY TNHH CHẾ BIẾN DỪA

               LƯƠNG QUỚI 

TRỤ SỞ CHÍNH

Địa chỉ: Lô A36, A37 - KCN An Hiệp,

Ấp Thuận Điền, Xã An Hiệp, Huyện

Châu Thành, Tỉnh Bến Tre, Việt Nam

Bản đồ công ty

Tel: (+84).275.3.626.313

Fax: (+84).275.3.626.315

Email: luongquoi@luongquoi.vn

 

CHI NHÁNH TP. HCM

Địa chỉ: 121, Đường 24A, Phường

Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân,

Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam

Bản đồ chi nhánh

Tel: (+84).2837.628.850

Fax: (+84).2837.628.850

Email: chinhanhhcm@luongquoi.vn

 

CỬA HÀNG GIỚI THIỆU SẢN PHẨM

Địa chỉ: 74C, Đại lộ Đồng Khởi, Khu phố 6, P. Phú Khương, TP. Bến Tre 

Tel: (+84).275.3.820.555

(gần cổng chào công viên tượng đài Đồng Khởi)

Gửi yêu cầu

Gửi
Liên hệ
An Toàn, Chất Lượng, Trách Nhiệm để Phát Triển Bền Vững
An Toàn, Chất Lượng, Trách Nhiệm để Phát Triển Bền Vững

HÀNG GIẢ, HÀNG NHÁI, HÀNG KÉM CHẤT LƯỢNG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Hiện nay, nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng là một trong những vấn đề nhức nhối của xã hội. Hệ lụy tiêu cực mà nó mang lại cho xã hội là không nhỏ như ảnh hưởng đến sức khỏe, tài chính của người tiêu dùng, làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng đến tính minh bạch của thị trường hàng hóa, làm giảm uy tín của các nhà sản xuất chân chính…. Vậy, thực trạng về nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng hiện nay như thế nào? Các nguyên nhân làm cho nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng tồn tại và phát triển ra sao?

 

    Vậy cần có những giải pháp gì nhằm hạn chế nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng…? Đây chính là một số nội dung cơ bản mà tác giả trao đổi trong bài viết “hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, thực trạng và một số giải pháp”:

1. Thực trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng hiện nay.

    Qua một số khảo sát cho thấy, hiện nay hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng có mặt ở rất nhiều phân khúc của thị trường, từ các “mẹt” hàng tạp hóa trên các phiên chợ vùng sâu, vùng xa đến hè phố các đô thị, thậm chí len lỏi, trà trộn vào cả những siêu thị cao cấp ở những đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh nhằm “thử thách” mức độ sành sỏi của khách hàng.

    Hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng có những biểu hiện như đa dạng về mẫu mã, “linh động” về giá cả và đặc biệt nguy hiểm hơn là còn phong phú cả về chủng loại. Sự nguy hiểm thể hiện ở chỗ, bên cạnh việc gây thiệt hại về kinh tế cho “khổ chủ”, nó còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Điển hình là đồ ăn, đồ uống, thuốc chữa bệnh...giả, kém chất lượng khiến bệnh tật thi nhau “nẩy nở”, phát triển trong cơ thể những “thượng đế” nhẹ dạ, kém hiểu biết và ham rẻ.

    Hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về “tần suất sử dụng và mức độ tác động của hàng giả, hàng kém chất lượng đến đời sống xã hội” nên khó có thể đưa ra kết luận chính xác rằng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng “đáp ứng” bao nhiêu phần trăm nhu cầu trong cuộc sống của mỗi người dân. Tuy nhiên, trong thời đại vàng thau lẫn lộn như hiện nay thì hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng không chừa bất cứ một ai, ngay cả việc người chết vẫn phải dùng quan tài “lởm” là chuyện đã xảy ra.

    Hầu hết các hãng có uy tín, có thương hiệu, được người tiêu dùng ưa chuộng đều có nguy cơ bị làm giả, làm nhái hàng hóa. Xét về góc độ kinh tế, hàng giả, hàng nhái gây ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của những doanh nghiệp sản xuất., kinh doanh chân chính. Tác động tiêu cực đầu tiên là hành vi nêu trên làm mất uy tín của những doanh nghiệp có sản phẩm bị làm giả, khiến người tiêu dùng hiểu lầm, dẫn đến việc quay lưng lại với sản phẩm. Mặt khác, vì có lợi thế về giá cả so với với hàng “xịn” mà hàng giả, hàng nhái khiến những mặt hàng chính hãng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng lâm vào tình trạng ế ẩm, suy giảm doanh thu. Thị trường băng đĩa CD, VCD, DVD ở Việt Nam là một ví dụ điển hình cho hiện tượng này.

2. Nguyên nhân tồn tại và phát triển của hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

    2.1 Do sự bất cập trong cơ chế quản lý.

    Lý giải về tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân quan trọng nhất là do cơ chế phối hợp và chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm còn nhẹ. Hiện nay, có tới năm cơ quan hành chính có chức năng và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ gồm cơ quan quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành Khoa học - Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, công an kinh tế, UBND các cấp cùng cơ quan hải quan kiểm soát hàng nhập khẩu. Lực lượng quản lý, kiểm tra này tuy đông nhưng không mạnh. Do hoạt động rời rạc, thiếu sự đồng bộ về chất lượng cũng như số lượng, chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan lại chồng chéo nên dù chịu sự kiểm tra của năm cơ quan nêu trên nhưng nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng vẫn tràn ngập trên thị trường.

    Lâu nay, hoạt động kiểm tra chất lượng hàng ngoại nhập trên thị trường bị xem nhẹ, chỉ sau khi có thông tin liên quan đến hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng mới bắt tay vào làm. Chính vì vậy, hiệu quả không cao và hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng vẫn có cơ hội đến tay người tiêu dùng. Khâu giám định, tưởng như chỉ là một thủ tục song lại làm "tắc" không ít vụ xử lý hàng giả, hàng nhái. Phát hiện hàng giả, hàng nhái trên thị trường không khó vì chúng được bày bán khá công khai tại những nơi công cộng, nhiều loại chỉ cần nhìn mắt thường cũng biết là hàng giả, nhưng để khẳng định đó là hàng giả trước khi xử lý lại không dễ chút nào. Theo quy định của pháp luật, để xử lý được hàng giả thì bắt buộc phải có giám định kết luận hàng giả. Nhiều mặt hàng giả, hàng kém chất lượng, chi phí giám định rất đắt, khi đưa đi giám định buộc lực lượng thực thi phải tạm ứng kinh phí giám định, nếu đúng là hàng giả thì phải tiêu hủy. Theo quy định của pháp luật thì chính đương sự vi phạm phải nộp khoản tiền giám định đó nhưng hầu như không có đương sự nào tự nguyệt chịu nộp và việc cưỡng chế thi hành cũng khó khăn. Mặt khác, muốn giám định hàng giả, hàng nhái, lực lượng quản lý phải có yêu cầu từ chủ sở hữu thương hiệu bị làm giả, làm nhái. Tuy nhiên, rất nhiều vụ vi phạm khi bị phát hiện, lại không thể giám định được vì hàng hóa có nguồn gốc từ các nước không đăng ký chất lượng tại Việt Nam, hàng hóa không có ai xác nhận là hàng giả vì không có cơ quan đại diện của nhà sản xuất tại Việt Nam. Chưa kể, không ít doanh nghiệp lại e ngại thương hiệu bị ảnh hưởng vì liên quan đến việc làm giả nên khi được mời đến cơ quan chức năng để xác nhận hàng giả thì từ chối.

    2.2 Do luật chưa “kín”, chế tài chưa đủ mạnh, chưa có tính răn đe đối vói các trường hợp vi phạm.

    Hiện nay, việc phải đội mũ bảo hiểm là bắt buộc đối với người ngồi trên mô tô, xe máy khi lưu thông trên đường, quy định này nhằm bảo đảm an toàn cho người sử dụng khi gặp tai nạn. Tuy nhiên, nhiều người không hiểu, hoặc cố tình không hiểu tác dụng thực sự của chiếc mũ bảo hiểm nên sử dụng nó chỉ để đối phó với quy định của pháp luật và qua đó tạo điều kiện cho mũ bảo hiểm “rởm” có cơ hội phát triển, phản lại tác dụng, ý nghĩa tích cực của việc đội mũ bảo hiểm. Chiếc mũ bảo hiểm quan trọng là vậy, việc quy định đội mũ bảo hiểm là cần thiết như thế nhưng cho đến thời điểm hiện tại các cơ quan chức năng vẫn còn lúng túng trong việc tìm phương pháp để xử lý những đối tượng sản xuất, buôn bán mũ bảo hiểm giả, kém chất lượng.

    Có thể thấy rằng luật của chúng ta còn khá nhiều kẽ hở để những đối tượng cơ hội, làm ăn chụp giật lách luật thậm chí là “xé rào” để làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Ví dụ như sản xuất mũ bảo hiểm giả, kém chất lượng thì bảo là sản xuất mũ… thời trang cho người đi bộ, đi xe đạp. Đối với người bán họ chưng biển “mũ bảo hiểm siêu rẻ” và toàn bán cho người đi mô tô, xe máy, nếu bị sờ gáy thì họ cũng cứ ung dung đáp “bán mũ bảo hiểm dành cho người đi xe đạp, đi bộ; còn người mua sử dụng vào mục đích gì thì tôi… không biết”.

    Do luật pháp còn mâu thuẫn, chồng chéo, chế tài chưa đủ mạnh nên nhiều công ty, doanh nghiệp sẵn sàng vi phạm để tìm kiếm lợi nhuận trái luật, nếu bị phát hiện thì họ sẵn sàng nộp phạt. Ví dụ như sau khi xử lý xong vụ phân bón giả, kém chất lượng ở Đồng Tháp hồi năm 2008 Ông Võ Hoàng Ly, Chánh Thanh tra Sở NN&PTNT Đồng Tháp, bức xúc: “Mức phạt hành chính cao nhất của ngành nông nghiệp trong lĩnh vực phân bón kém chất lượng chỉ 12 triệu đồng. Con số này chỉ bằng đầu móng tay so với những thiệt hại mà người nông dân phải gánh chịu. Số tiền phạt cũng chỉ là hạt cát so với lợi nhuận mang về cho nhà sản xuất và nhà kinh doanh. Do đó, phạt không đủ sức răn đe mà còn gây khó khăn trong việc lập lại trật tự trên lĩnh vực này".

    2.3 Do sự “tiếp tay” của người tiêu dùng

    Bên cạnh một số người mua lầm phải hàng giả do khó phân biệt được đâu là hàng thật, đâu là hàng giả thì vẫn có không ít người tiêu dùng biết mình đang mua bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng nhưng vẫn chấp nhận bởi loại hàng hóa này phù hợp với túi tiền của họ. Khi bình luận về vấn đề này ở một bài báo trên tranghttp://nld.com.vn do một độc giả viết “Có những món hàng tui biết đó là hàng giả tui vẫn mua vì giá quá rẻ, mua 1 món hàng thật bằng mua 3 cái hàng giả. Luật pháp còn nhẹ tay với hàng giả thì tui vẫn xài hàng giả hoài vì tui không có nhiều tiền để mua hàng thật”. Với cách nghĩ như vậy, nhiều người đã gián tiếp tiếp tay cho hàng giả, hàng nhái trong việc phân phối và tiêu thụ để rồi ngày càng chiếm thị phần trên thị trường.

    2.4 Do người tiêu dùng ngại động chạm đến việc kiện cáo.

    Thứ nhất:  Do thói quen sử dụng tình cảm, niềm tin trong giao dịch nên phần nhiều người dân Việt Nam đều tiến hành giao mua bán hàng hóa theo kiểu thấy ưng là mặc cả, mặc cả xong là mua. Mua xong là… xong. Với phương thức giao dịch kiểu “tiền trao - cháo múc” trên, người tiêu dùng hầu như không có bất kỳ giấy tờ, hóa đơn nào để chứng minh quá trình giao dịch. Nếu có đi chăng nữa (ví dụ như mua hàng ở siêu thị) thì họ cũng chỉ coi tờ hóa đơn là tờ giấy liệt kê hàng hóa, giá cả và thường bỏ đi trước khi sử dụng hàng hóa. Do thói quen đó nên khi “có chuyện gì” họ cũng chỉ biết “rút kinh nghiệm” vì không có cơ sở để “bắt đền” hay kiện tụng.

    Thứ hai: Do xuất phát từ gốc của nền văn minh nông nghiệp và văn hóa trọng tình truyền thống nên người Việt Nam có quan niệm “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”. Bởi vậy mà ngay cả những người “cầm cân nảy mực” ở nhiều nơi vẫn có tư tưởng thiên về khuyến khích các đương sự “tự dàn xếp”. Và cuối cùng họ tự giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình bằng cách “tự thỏa thuận, hòa giải”.

    Thứ ba: Do vẫn mang nặng tâm lý tiểu nông chỉ thấy lợi ích trước mắt, không thấy lợi ích lâu dài. Chỉ thấy lợi ích cá nhân, không thấy lợi ích tập thể, cộng đồng nên người tiêu dùng rất dễ bị “bịt miệng” bằng vật chất, bằng vũ lực của những kẻ sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Chính điều này gây khó khăn rất lớn trong quá trình xử lý hành vi vi phạm của những đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

    Thứ tưDo phần đông người dân hiểu và nắm luật rất hạn chế nên có muốn kiện họ cũng không biết nên bắt đầu từ đâu, thủ tục thế nào, cộng thêm quan niệm sai lầm "vô phúc đáo tụng đình" nên nếu có mua dính phải hàng “lởm” nhiều người chỉ “ngậm bồ hòn làm ngọt” bụng bảo dạ “lần sau chừa cái mặt nó ra” chứ rỗi hơi mà đi “kiện củ khoai” vừa mất thời gian, tiền bạc, không khéo lại… vác họa vào thân.

    Thứ năm: Đi khiếu nại đồng nghĩa với mất công, mất buổi, mất chi phí đi lại, công việc tồn đọng… Do đó, đối với những mặt hàng có giá trị không lớn (vài trăm ngàn) thì dù có thắng kiện đi chăng nữa có khi vẫn… lỗ.

    Thứ sáu: Những người thực sự có tâm huyết, muốn “chiến đấu” đến cùng với vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng thì bị cản trở rất nhiều bởi nạn tham ô, tham nhũng; từ các thế lực của “xã hội đen” đe dọa và đặc biệt là từ sự khó khăn về nguồn tài chính để thuê các dịch vụ pháp lý, thuê luật sư, theo đuổi vụ kiện…

3. Một số giải pháp nhằm hạn chế nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

    Theo kinh nghiệm từ các nước cho thấy vai trò tham gia của doanh nghiệp - chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong thực thi là rất quan trọng. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng đã quy định đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp trong công tác phối hợp và hợp tác với các cơ quan thực thi pháp luật. Sự liên minh giữa các nhà sản xuất trong đấu tranh chống hàng giả cần tích cực hơn nữa. Doanh nghiệp không được buông lỏng trong quản lý, giám sát tiêu thụ hàng hoá của mình, không nên coi việc chống hàng giả là của các cơ quan thực thi pháp luật. Khi bị xâm phạm nhãn hiệu, chủ sở hữu cần chủ động gửi đơn khiếu nại hoặc thông qua văn phòng luật sư để khiếu nại lên Cục Sở hữu Trí tuệ.

    Đối với người tiêu dùng, cần nâng cao tinh thần cảnh giác khi mua hàng và phải nhận thức rõ nhiệm vụ của mình trong việc chống hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Việc này không chỉ là bảo vệ quyền lợi của mình mà còn chống lại hành vi phá hoại sản xuất, kìm hãm sự phát triển nền kinh tế đất nước. Việt Nam hiện nay cần phải thiết lập một cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Theo đó, nhà sản xuất cần bỏ kinh phí để thông báo đến người tiêu dùng nhằm phân biệt hàng thật của mình với hàng giả và có chính sách khen thưởng kịp thời cho những người tiêu dùng phát hiện ra hàng nhái, hàng giả. Hơn nữa, cũng nên có một hành lang pháp lý do Hội bảo vệ người tiêu dùng lập ra để bảo vệ người tiêu dùng sau khi mua hàng.

    Sớm hoàn thiện các quy định về thực thi quyền Sở hữu Trí tuệ. Các điều quy định trong Luật phải được hướng dẫn cụ thể để các cơ quan thực thi pháp luật có thế áp dụng một cách thống nhất. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, cơ quan có liên quan với bộ phận quản lý thị trường đồng thời tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ đủ năng lực, trình độ cho bộ phận này cũng như tăng cường các phương tiện cần thiết cho việc giám định, kiểm tra để xử lý kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm. Mức độ xử phạt cũng cần được xem xét lại sao cho có đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm.

    Tóm lại, cuộc đấu tranh đối với vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng là công việc không chỉ của riêng một tổ chức hay cá nhân mà phải là công việc của toàn xã hội mà trước hết là cần hoàn thiện các quy định của pháp luật, phối kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ quan thực thi pháp luật, nâng cao ý thức của tổ chức và cá nhân. Có làm được như vậy thì mới từng bước đẩy lùi được vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đang tràn lan hiện nay.

 

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  NVH/NTH

  (02-11-2013)

Nguồn: Trang web của Liên Doàn Luật Sư Việt Nam

[1] http://phapluattp.vn/213622p1015c1074/dbscl-lung-tung-xu-ly-phan-bon-kem-chat-luong.htm

[2] http://nld.com.vn/ban-doc/gia-ca-tem-chong-hang-gia-20120314103326754.htm

Hỗ trợ trực tuyến

  • Thanh Phong

    thanhphong@luongquoi.vn

  • Minh Thư

    minhthu@luongquoi.vn

  • Văn Tới

    vantoi@luongquoi.vn

  • Hoàng My

    hoangmy@luongquoi.vn

  • HỖ TRỢ KHIẾU NẠI

    Thanh Phong

    (+84).283.7.628.850

    chinhanhhcm@luongquoi.vn
  • LIÊN HỆ ĐẶT HÀNG

    Văn Tới

    (+84).275.3.626.313

    kinhdoanh@luongquoi.vn